Chuyên đề sơn ô tô

Sơn ô tô có mấy lớp ?

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 

Ở phần này mình nói qua một chút về sơn ô tô, một số kiến thức cơ bản về sơn ô tô, kỹ thuật chăm sóc ngoại thất ô tô.

Các bạn vẫn thường nghe người ta nói: sơn gốc nước và sơn gốc dầu. Vậy sơn gốc nước là gì ? sơn gốc dầu là gì ?

Trước hết thì ta nói về các thành phần cơ bản tạo thành sơn, các thành phần đó gồm:

  • Chất tạo màng (chất kết dính)
  • Chất tạo màu
  • Chất độn
  • Dung môi
  • Phụ gia

Dung môi là yếu tố để phân biệt sơn gốc dầu và sơn gốc nước.

Sơn gốc dầu: là loại sơn có gốc acrylic, kết hợp chất tạo màu và dung môi (có chất VOC) tạo thành dung dịch màu. Ngoài ra còn có sơn gốc dầu một thành phần (sơn alkyd), có nguồn gốc nhựa thực vật, có độ bám dính rất tốt, sử dụng tốt đối với bề mặt gỗ và kim loại.

Sơn gốc nước: là loại sơn có dung môi là nước, thường được sử dụng trong các công trình dân dụng. Loại sơn này có hàm lượng chất bay hơi VOC rất thấp, ít ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường

So sánh sơn gốc dầu và sơn gốc nước

Sơn ô tô là phần không thể thiếu trong quá trình lắp ráp, sản xuất xe, sơn ô tô góp phần làm tăng tính thẩm mỹ ô tô. Chắc chắn không có một khách hàng nào bỏ ra hàng đống tiền để mua một khối sắt di động, màu mè lem luốc, sắt thép han rỉ nham nhở.

sơn ô tô - mã màu sơn ô tô

Trong những ngày đầu tiên, thời kỳ sơ khởi của ngành công nghệ ô tô, những chiếc ô tô được sơn thủ công, hoàn toàn bằng tay và được sấy trong phòng hấp nhiều giờ liền. Sơn ô tô trong thời kỳ này được làm khô bằng cơ chế bay hơi dung môi. Do đó phải mất rất nhiều thời gian để hoàn thiện một chiếc ô tô.

Sau đó ngành công nghiệp ô tô phát triển, ô tô được sản xuất hàng loạt để đáp ứng nhu cầu thị trường, quá trình sơn - hấp này trở nên lỗi thời và lạc hậu. Công đoạn làm khô sơn được nâng lên bằng phương pháp sấy.

Sơn ô tô trong thời kỳ này có hàm lượng kim loại nặng khá cao, trong đó Pb (chì), Cr (crom) là chủ yếu.

Để đáp ứng được những tiêu chuẩn về môi trường (tiêu chuẩn EURO là chủ yếu), ngày nay sơn ô tô chủ yếu là sơn gốc nước 2 thành phần (có chất xúc tác), thời gian khô tự nhiên khoảng từ 2-3h. Thành phần chủ yếu là polyurethane acrylic.

Kỹ thuật sơn ô tô

Sơn ô tô gồm bao nhiêu lớp ?

Thông thường, các dòng xe phổ thông gồm có các lớp sau: lớp primer (chống rỉ), lớp bả matit, lớp base coat (lớp màu lót + lớp sơn màu), lớp sơn bóng (clear coat).

Độ dày mỗi lớp sơn chỉ là tương đối vì phụ thuộc rất nhiều vào hãng xe, loại sơn và cách sơn. Tuy nhiên độ dày trung bình các lớp sơn có thể ghi nhận như sau:

  • Lớp bóng 2K  : khoảng 40 micron
  • Lớp sơn màu : khoảng 15 micron
  • Lớp sơn lót   : khoảng 30 micron
  • Lớp sơn chống rỉ: (E-coat: sơn tĩnh điện): khoảng 20 micron

Ghi chú: đường kính sợi tóc khoảng từ 50-70 micron

Công dụng của các lớp sơn:

1. Lớp bả: được sử dụng để xử lý các bề mặt lồi lõm, móp méo hoặc bị ăn mòn lỗ chỗ không phẳng.

Matit có 2 loại: loại thô thường có màu trắng đục; loại mịn thường có màu xanh hoặc vàng nhạt.

Bả matit có thành phần chủ yếu là polyester resin (97-98%)

Tuy nhiên matit thô không thể tự đông cứng sau khi đắp mà cần có chất xúc tác được gọi chất làm đông hoặc gọi là hardener. Màu sắc lớp matit do màu hardener qui định.

Tỉ lệ pha trộn giữa matit và Hardener thường tùy thuộc vào kinh nghiệm thợ sơn và thường thì Hardener chiếm khoảng từ 2-3%.

Lớp bả matit không được tính vào lớp sơn ô tô nhưng đôi khi được đề cập trong lớp nền.

2. Lớp màu lót: lớp màu lót được phủ lên trên lớp matit (đã được xử lý đạt yêu cầu kỹ thuật), lớp màu lót thường được phun khá dày.

Màu lớp sơn lót phụ thuộc vào màu xe, thường có các màu: trắng, xám hoặc xanh lá. Tuy nhiên hiện nay, công nghệ sơn ô tô ngày càng phát triển, bạn vẫn thường thấy 2-3 màu trên một chiếc xe tùy  vào khoảng cách, góc nhìn và độ sáng của môi trường. Do đó, lớp sơn màu được các hãng qui định khá chặt chẽ.

Lớp màu lót có tác dụng làm tăng độ mịn, độ bám dính của lớp sơn màu, là lớp bảo vệ thứ hai sau lớp sơn chống rỉ.

3. Lớp sơn màu: quyết định màu sắc và hiệu ứng chiếc xe cần thể hiện. Thường được chia làm 3 loại: màu thuần, màu ánh kim và màu ca-may

Màu thuần (màu solid): chỉ đơn thuần là các sắc tố màu và không có gì khác, loại này rất phổ biến và dễ sử dụng nhất. Thường thấy ở các xe lớn, xe công trình, tàu bè hoặc máy bay. Vẫn có một số ít ô tô đời cũ được sơn loại màu này, xe máy cũng nhiều.

Màu ánh kim (Metallic): gồm các mảnh nhôm kim loại, tạo hiệu ứng lấp lánh sau khi sơn. Loại sơn này khá khó kiểm soát, đòi hỏi thợ sơn có kỹ thuật tương đối tốt nhằm đảm bảo độ đồng nhất của các mảnh kim loại trên các mảng diện tích khác nhau, độ sáng và độ lấp lánh ở các góc nhìn khác nhau.

Màu ca-may: chứa các sắc tố kim loại đặc biệt, tạo hiệu ứng mờ và lấp lánh như hiệu ứng màu của ngọc trai.

Loại sơn màu đặc biệt này có thể thi công theo hai cách: phun màu ca-may trước sau đó phun bóng 2K hoặc thi công 3 giai đoạn: phun màu - phun ca-may và phun bóng 2K.

4. Lớp bóng 2K: lớp sơn bóng 2K là lớp sơn phủ trên cùng, tăng độ trong, độ cứng, độ sáng cho lớp sơn màu. Lớp sơn bóng 2K có tác dụng bảo vệ lớp sơn màu. Sơn bóng thường là lớp sơn dày nhất, chịu tác động nhiều nhất trong quá trình vận hành./.

Protected by X Ceramic

Công ty TNHH X Systems Việt Nam. GPĐKKD: 0315222091 do Sở KH&ĐT TPHCM cấp ngày 14/08/2018. Đ/c: 60 Nguyễn Văn Thủ, P. Đakao, Q.1, TPHCM. ĐT: 0971972939. Email: info@xceramic.vn. Chịu trách nhiệm nội dung: Trần Văn Trí - Năm 2020